Nông, lâm thủy sản
Trái cây Việt rộng đường xuất khẩu
14/10/2016

Cùng với sự hội nhập quốc tế và việc loại bỏ nhiều rào cản kỹ thuật, trái cây Việt Nam đang ngày càng rộng đường xuất khẩu hơn. Tuy nhiên để xuất khẩu bền vững, trái cây Việt cần phải nỗ lực nhiều trong việc nâng cao được chất lượng, đáp ứng các yêu cầu khắt khe về an toàn vệ sinh thực phẩm.

 

 

Nhiều trái cây thâm nhập thị trường khó tính

Theo số liệu của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, chỉ tính 9 tháng năm 2016 xuất khẩu trái cây Việt Nam đã đạt giá trị gần 1,8 tỷ USD, tăng 31% so với cùng kỳ năm 2015, giá trị gần bằng giá trị xuất khẩu của cả năm 2015 và lần đầu tiên xuất khẩu vượt gạo.

Hiện xuất khẩu trái cây đã đạt tốc độ tăng trưởng cao nhất trong số các sản phẩm nông lâm ngư nghiệp và đứng thứ 3 về giá trị trong danh sách 9 sản phẩm nông lâm ngư nghiệp. Trong số 29 loại trái cây xuất khẩu của Việt Nam, thanh long chiếm vị trí đầu bảng với giá trị xuất khẩu đạt hơn 700 triệu USD, tương đương gần 50% tổng giá trị xuất khẩu. Tiếp theo là nhãn, dưa hấu... đều tăng trưởng ấn tượng.

“Những tháng cuối năm, ngành trái cây liên tiếp nhận nhiều tín hiệu vui khi mặt hàng măng cụt đã được cấp phép xuất khẩu sang thị trường Mỹ, vải thiều Bắc Giang đã được đưa sang Australia... Tương lai là những loại trái cây đặc sản khác như thanh long, chôm chôm, nhãn, vải, măng cụt sẽ sớm gia tăng được khối lượng sau khi được các thị trường đầy tiềm năng như Mỹ, Nhật, Hàn Quốc... phê duyệt", ông Hoàng Trung, Cục trưởng Cục Bảo vệ thực vật, cho hay.

Hiện trái cây trong nước đã thỏa mãn điều kiện nhập khẩu khắt khe của nhiều nước. Đến nay đã có 4 loại trái cây gồm thanh long, chôm chôm, nhãn, vải thiều đã xuất khẩu sang Mỹ và ngành chức năng đang đàm phán đưa thêm xoài, vú sữa sang thị trường này. Tại thị trường Australia, trái vải đã thâm nhập thành công và trong tương lai gần sẽ là xoài, thanh long. Còn tại Nhật, sau quá trình đàm phán gian nan, xây dựng thành công quy trình xử lý dịch hại, trái xoài và thanh long đã được đến tay người tiêu dùng.

 

 

Xây dựng ngành trái cây chủ lực

Theo ông Hoàng Trung, sau thời gian phát triển, hiện diện tích cây ăn quả của Việt Nam đạt hơn 786.000 ha, trong đó vùng đồng bằng sông Cửu Long là vùng sản xuất cây ăn quả lớn nhất, chiếm gần 40% tổng diện tích cây ăn quả cả nước. Nhờ tác động của tiến bộ khoa học kỹ thuật, chuyển đổi giống cây trồng, sản xuất chuyên canh và trình độ canh tác của các nhà vườn được nâng cao nên năng suất và sản lượng cây ăn quả cũng tăng trưởng mạnh.

Tuy nhiên, trái cây trong nước lại đang đối mặt với nhiều vấn đề ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững khi vẫn chủ yếu sản xuất nhỏ lẻ, manh mún nên nguồn cung khó bảo đảm cả số lượng lẫn chất lượng. Trong khi đó doanh nghiệp xuất khẩu trái cây còn yếu và thiếu kinh nghiệm giao thương, quản lý.

"Chúng ta cần phải thực hiện các biện pháp cơ bản như diệt khuẩn bằng chiếu xạ, xử lý nhiệt, trồng và chăm sóc theo những tiêu chuẩn quốc tế như Global GAP, cũng như từng bước quy hoạch đồng bộ vùng nguyên liệu cho từng thị trường, từng hợp đồng xuất khẩu, đảm bảo xuất xứ địa lý của nhà vườn theo quy định. Bên cạnh đó, để tạo thêm nhiều cơ hội cho trái cây, ngành nông nghiệp đã đặt quyết tâm xây dựng ngành trái cây chủ lực trồng tập trung ở Nam Bộ phát triển theo hướng sản xuất hàng hóa lớn trên cơ sở phát huy lợi thế so sánh và ít nhất 50% sản phẩm phải đạt tiêu chuẩn chất lượng GAP đáp ứng tốt những yêu cầu xuất khẩu ", ông Hoàng Trung nói thêm.

Theo các chuyên gia kinh tế, dù xuất khẩu trái cây liên tục tăng mạnh nhưng hầu hết đều tiêu thụ dưới dạng quả chín, tươi sau khi thu hoạch. Tỷ lệ các loại trái cây chế biến, phơi sấy, đóng hộp, nước ép... chiếm không đáng kể. Để duy trì và mở rộng thị trường cần phải quy hoạch lại vùng sản xuất trái cây xuất khẩu và xây dựng khung chất lượng bảo đảm các tiêu chí. Hiện ngành nông nghiệp đã chú trọng phát triển 12 loại trái cây chủ lực gồm: Thanh long, xoài, chôm chôm, sầu riêng, vú sữa, bưởi, nhãn, chuối, dứa, cam, mãng cầu và quýt. Tuy nhiên, để phát huy tiềm năng xuất khẩu trái cây, Nhà nước cần tạo điều kiện tốt hơn cho doanh nghiệp hợp tác với nhóm sản xuất có cơ chế phù hợp để mang lại lợi ích cao nhất cho người sản xuất.

 

 

Theo: VOV

 

Ý kiến bạn đọc